Saturday, 01/10/2022 - 12:39|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS An Thạnh Tây

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh môn Ngữ Văn

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh môn Ngữ Văn tại trường THCS An Thạnh Tây

Tài liệu đính kèm: Tải về

Trao đổi chuyên môn:

 

DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HỌC SINH ĐỐI VỚI MÔN NGỮ VĂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ AN THẠNH TÂY

 

 

Thực hiện công văn chỉ đạo của Sở GD&ĐT tỉnh Sóc Trăng, Phòng GD&ĐT huyện Cù Lao Dung, ý kiến chỉ đạo của Ban giám hiệu Trường THCS An Thạnh Tây và qua các đợt tập huấn chuyên môn trong các hè 2017, 2018. Giáo viên Ngữ văn ở trường THCS An Thạnh Tây đã nghiêm túc thực hiện việc đổi mới các hoạt động chuyên môn và đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá học sinh theo tinh thần chỉ đạo của cấp trên. Các hoạt động: xây dựng chủ đề dạy học, dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, sử dụng “Trường học kết nối” được thực hiện đúng theo hướng dẫn. Trong đó, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh được giáo viên Ngữ văn của trường đặc biệt quan tâm và đã thực hiện như sau:

Thứ nhất, đổi mới việc thiết kế giáo án (kế hoạch bài học). Dựa trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng, giáo viên thay đổi cấu trúc giáo án nhằm tích cực hóa học sinh. Không còn theo 5 bước như giáo án truyền thống (Ổn định lớp, Kiểm tra bài cũ, Bài mới, Củng cố, Dặn dò) mà giáo án được thiết kế theo 4 bước (Khởi động, Hình thành kiến thức, Luyện tập, Vận dụng). Đồng thời xác định định hướng hình thành năng lực và phẩm chất của học sinh trong từng tiết học. Mặt khác, các câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài được đầu tư kĩ hơn, hỏi một cách khái quát, đúng trọng tâm và có hướng gợi mở để học sinh có thể phát huy năng lực, khả năng tư duy, sáng tạo. Không như giáo án truyền thống, để tìm hiểu một vấn đề, giáo viên đưa ra hàng loạt câu hỏi, từ câu hỏi “lớn” đến câu hỏi “nhỏ”, nặng về phương pháp vấn đáp, thuyết trình tạo cảm giác nhàm chán, nặng nề cho tiết học.

Ví dụ: Câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu hình ảnh Lục Vân Tiên (trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”, Ngữ văn 9):

Giáo án truyền thống

(1)

Giáo án định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh

(2)

1. Lục Vân Tiên đối mặt với lũ cướp trong hoàn cảnh nào?

2. Sự việc đánh cướp được thể hiện rõ qua hành động tiêu biểu nào?

3. Qua hành động ấy ta có thể khẳng định Lục Vân Tiên là người như thế nào?

4. Khi nghe Kiều Nguyệt Nga nói muốn được lạy tạ thái độ của chàng ra sao?

5. Cách cư xử của chàng đối với Kiều Nguyệt Nga thế nào?

6. Hình tượng Lục Vân Tiên đã để lại ấn tượng gì?

1. Hành động đánh cướp của Lục Vân Tiên và cách cư xử đối với Kiều Nguyệt Nga?

2. Qua đó ta có thể khẳng định Lục Vân Tiên là người như thế nào?

3. Hình tượng Lục Vân Tiên đã để lại ấn tượng gì?

 

Qua ví dụ ta thấy, các câu hỏi ở cột (1) quá cụ thể, học sinh có thể trả lời ngay 3-4 câu mà không cần suy nghĩ. Còn ở cột (2), các câu hỏi mang tính khái quát, có tính nhận biết, thông hiểu cao. Điều này giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, tổng hợp.

Thứ hai, đổi mới hình thức dạy học, phương pháp dạy học. Từ việc đổi mới thiết kế giáo án nên hình thức dạy học, phương pháp dạy học cũng có sự thay đổi.

- Vào đầu tiết học giáo viên không còn phải ổn định lớp bằng việc kiểm tra sĩ số (việc này ban cán sự lớp đã làm) và kiểm tra bài cũ nữa. Mà thay vào đó là hoạt động “Khởi động” mang lại nhiều hứng thú cho học sinh để bước vào một tiết học mới, tìm hiểu những tri thức mới. Tùy vào bài học, giáo viên thực hiện những cách khởi động khác nhau, như: cho học sinh nghe một bài hát, nghe ngâm một bài thơ (đoạn thơ), học sinh trực tiếp hát hoặc ngâm thơ (đọc thơ) hoặc cho học sinh chơi một trò chơi, giải câu đố, giải quyết một tình huống,… Khởi động bằng hình thức nào đi nữa thì nội dung khởi động cũng phải có liên quan đến nội dung bài học nhằm gợi mở cho các em đến với những điều mới mẻ mà các em sắp được tìm hiểu. Ví dụ: để khởi động cho bài Những câu hát về tình cảm gia đình (Ngữ văn 7) giáo viên cho học sinh nghe bài hát “Ba ngọn nến lung linh” (sáng tác: Ngọc Lễ), từ đó dẫn dắt giới thiệu vào bài mới.

- Ở hoạt động “Hình thành kiến thức”, giáo viên vận dụng nhiều kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy học tích cực để định hướng cho học sinh tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức. Tùy vào nội dung bài học mà giáo viên vận dụng phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học khác nhau, nhưng điểm chung là làm sao tích cực hóa hoạt động học của học sinh. Hoạt động dạy của giáo viên không còn theo kiểu thuyết trình, truyền đạt một chiều hay chỉ là vấn đáp rồi cho học sinh ghi bài mà tổ chức cho học sinh hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau, như: thảo luận nhóm lớn, nhóm nhỏ, cặp đôi hoặc học sinh tự tìm hiểu vấn đề theo sự định hướng của giáo viên rồi trình bày, tranh luận… Cuối cùng là cho các em tự rút ra nội dung bài học. Ví dụ: khi dạy bài “Nghị luận trong văn bản tự sự” (Ngữ văn 9):

Mục I. Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự:

          + Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập. Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm lớn: đọc các đoạn trích và trả lời các câu hỏi (SGK Ngữ văn 9, tập 1, trang 137-138).

          + Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập. Học sinh tự tổ chức thảo luận nhóm lớn, rồi ghi kết quả thảo luận vào bảng phụ treo lên trên bảng chính.

+ Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận. Đại diện các nhóm trình bày, học sinh nhận xét, bổ sung…

          + Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. Khi học sinh không còn ý kiến thì giáo viên nhận xét, chốt lại vấn đề, định hướng cho học sinh tự rút ra nội dung bài học.

- Đối với hoạt động “Luyện tập”. Tùy vào bài học hay phân môn (Văn bản, Tiếng Việt hay Tập làm văn) mà có cách thực hiện cho phù hợp.

          + Khi dạy học phần Văn bản, hoạt động “Luyện tập” thường là đọc diễn cảm đoạn văn, bài thơ (đoạn thơ) hay phát biểu cảm nghĩ về nhân vật. Ví dụ: khi dạy bài “Lặng lẽ Sa Pa” (Ngữ văn 9), giáo viên cho học sinh phát biểu cảm nghĩ về một trong các nhân vật: anh thanh niên, ông họa sĩ hoặc cô kĩ sư.

          + Khi dạy học phần Tiếng Việt và Tập làm văn, giáo viên cho học sinh làm các bài tập trong sách giáo khoa. Nếu còn thời gian, có thể cho hcoj sinh làm thêm bài tập bổ sung để các em khắc sâu kiến thức đã học. Ví dụ: khi dạy bài “Điệp ngữ” (Ngữ văn 7), giáo viên cho học sinh làm thêm bài tập: tìm điệp ngữ trong các tác phẩm văn học đã học, nêu tác dụng và xác định dạng của các điệp ngữ vừa tìm được.

- Còn ở hoạt động “Vận dụng”. Cũng giống như các hoạt động khác, tùy vào bài học, phân môn mà giáo viên giao nhiệm vụ sao cho gắn liền với nội dung bài học, học sinh có thể dựa vào kiến thức đã học để vận dụng thực hành hoặc ứng dụng vào thực tiễn. Ví dụ:

          + Khi dạy Văn bản “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” (Ngữ văn 7), giáo viên yêu cầu học sinh: Dựa vào phần dịch nghĩa, tập so sánh để thấy được sự khác nhau giữa bản dịch thơ và nguyên tác.

          + Khi dạy tiết Tiếng Việt "Từ trái nghĩa" (Ngữ văn 7), giáo viên yêu cầu học sinh: Tìm các cặp từ trái nghĩa được sử dụng để tạo hiệu quả diễn đạt trong một số văn bản đã học.

Ngoài ra, giáo viên cũng chú ý hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài mới ở nhà để các tiết học tiếp theo đạt hiệu quả.

Thứ ba, như đã nói ở phần trên, các hoạt động dạy học hiện nay không theo 5 bước như trước kia. Vậy làm thế nào để cho điểm kiểm tra miệng học sinh? Đối với việc vấn đề này, chúng tôi thực hiện như sau:

- Cho điểm ở hoạt động “Khởi động”: khi học sinh nghe một bài hát, nghe ngâm một bài thơ (đoạn thơ), học sinh trực tiếp hát hoặc ngâm thơ (đọc thơ), giáo viên cho học sinh phát biểu cảm nghĩ hoặc phát hiện vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; hay cho học sinh chơi một trò chơi, giải câu đố, giải quyết một tình huống,… cũng cho các em phát hiện vấn đề có liên quan đến nội dung bài học. Dựa vào ý kiến phát biểu của học sinh mà giáo viên cho điểm.

- Cho điểm ở hoạt động “Hình thành kiến thức”: khi học sinh thảo luận, trình bày nội dung bài học, ý kiến nào hay, có tính phát hiện, sáng tạo thì giáo viên cho điểm. Hay hỏi lại các em những kiến thức đã học mà có liên quan đến bài đang học để cho điểm. Tùy theo tình huống, có thể cho điểm cá nhân, cộng điểm cho nhóm,…

- Cho điểm ở hoạt động “Luyện tập” và hoạt động “Vận dụng”: tùy vào mức độ thực hiện các yêu cầu của bài tập trong sách giáo khoa hay yêu cầu của giáo viên đặt ra mà cho điểm.

- Cho điểm quá trình: trong quá trình học tập của học sinh, giáo viên quan sát, theo dõi sự tích cực của từng em (tham gia thảo luận, trả lời câu hỏi, làm bài tập,…) mà cho điểm phù hợp.

Nói chung, cho điểm kiểm tra miệng học sinh được thực hiện một cách linh hoạt, diễn ra trong suốt tiết học và đánh giá được khả năng hiểu bài của học sinh đồng thời mang tính động viên, khích lệ để các em có ý thức phấn đấu trong học tập.

Một số hình ảnh:

Tóm lại, mỗi hình thức dạy học đều có những ưu điểm cũng như nhược điểm nhất định. Nhưng việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh là phù hợp với xu thế phát triển của xã hội hiện nay. Khi thực hiện hình thức dạy học này, chúng tôi nhận thấy học sinh rất tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tìm hiêu kiến thức trong các bài học. Đồng thời các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo, khả năng tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản, thẩm mĩ và sáng tạo của học sinh cũng được nâng cao.

Trên đây là cách dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh được giáo viên Ngữ văn của trường THCS An Thạnh Tây đã và đang thực hiện. Mong rằng nhận được ý kiến đóng góp, chia sẻ của quý đồng nghiệp.

 

Bài, ảnh: Phạm Văn Hữu

Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 50
Hôm qua : 32
Tháng 10 : 50
Năm 2022 : 8.213